Pages

Subscribe:

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Kết cấu của thư bảo lãnh tín dụng và định giá thư bảo lãnh tín dụng

       Kết cấu của thư bảo lãnh tín dụng

     Một SLC có 3 phần chính: (1) Cam kết của người phát hành (thưởng là ngân hàng hoặc Công ty bảo hiểm). (2) Bên được bảo lãnh tín dụng (account party). (3) Bên được thụ hưởng (beneficiary) (thưởng là ngân hàng hoặc nhà đầu tư khác quan tâm tới sự an toàn của khoản cho vay đổi với bên được bảo lãnh. Đặc trưng cơ bản của SLC là chúng thưởng không nằm trong Bảng cân đối kế toán của người phát hành hay người thụ hưởng.

        Bởi vì cam kết bảo đảm này chỉ là một trách nhiệm tạm thòi (contingent liability). Trong nhiều trường hợp, cam kết sẽ kết thúc mà không cần thực hiện. Việc bồi hoàn vốn cho bên thụ hưởng chỉ được thực hiện khi có những sự việc ngoài dự kiến xảy ra đối với bên xin mờ thư bảo lãnh. Hơn nữa, người thụ hưởng chỉ có quyền đòi hoàn trả từ phía người phát hành khi họ đáp ứng đầy dù các điều kiện ghi trong thư bảo lãnh. Nếu bất cứ điều kiện nào không được đáp ứng thì người phát hành không bị bắt buộc phải chi trả.

         Giá trị và định giá thư bảo lãnh tín dụng

      Theo các điểu khoản của một SLC, ngân hàng phát hành sẽ thanh toán mọi khoản tiền lãi và vốn mà người được bảo lãnh nợ nhưng chưa thanh toán cho bên thụ hưởng. Ngân hàng nhận được một khoản phí cho việc chấp nhận rủi ro mà bên thụ hưởng phải gánh chịu nếu như không có thư bảo lãnh. Vì vậy. bên thụ hưởng có thể sẵn sàng cho bên mở SLC vay nhiều hơn hoặc cung cấp cùng một lượng vốn nhưng với lãi suất thấp hon.

      Nhìn chung, người yêu cẩu mở SLC sẽ sử dụng thư bảo lãnh của ngân hàng nếu như chi phí cho thư bảo lãnh thấp hơn lợi ích do SLC mang lại.

         Vì vậy, nếu gọi p – là giá của thư bảo lãnh

       NL – là chi phí của khoản cho vay không được bảo đảm GL – là chi phí của khoản cho vay được bảo đảm một người đi vay sẽ sử dụng thư bảo lãnh nếu như p < NL – GL

Kết cấu của thư bảo lãnh tín dụng

       Ví dụ: Một khách hàng có thể vay vốn không bảo đảm với lãi suất 7,5%, một giấy bảo lãnh tín dụng có chất lượng sẽ giảm chi phí trả lãi của khoản tín dụng xuống còn 6,75% và mức phí phát hành thư bảo lãnh là 0,5% giá trị danh nghĩa của khoản cho vay. Như vậy, rõ ràng khách hàng sẽ sử dụng thư bảo lãnh bởi vì phần tiết kiệm được từ việc sử dụng thư bảo lãnh là (7,5% – 6,75%) hay 0,75%, lớn hơn 0,5% phí trả cho thư bảo lãnh.

        Đối với người thụ hưởng giá trị của SLC chính là chất lượng tín dụng của người phát hành và chi phí về thông tin để đánh giá chất lượng tín dụng của họ. Rõ ràng là thư bảo lãnh của ngân hàng có chất lượng tín dụng cao sẽ được bên thụ hưởng đánh giá cao hơn. Bèn yêu cầu (account party) có lẽ sẽ không nhờ một ngân hàng hoạt động yếu kém phát hành thư bảo lãnh tín dụng bởi vì một thư bảo lãnh như vây sẽ cho họ ít sức mạnh đàm phán trong hợp đồng với bên thụ hưởng. Nếu chi phí để có được thõng tin về tình trạng của ngân hàng bảo lãnh hoặc về bên yêu cầu mở thư (account party) là cao, bên thụ hưởng thường nhân được ít lợi ích từ thư bảo lãnh.