Nguồn vốn gia tăng từ việc bán chứng khoán được chuyển trực tiếp thành các khoản cho vay mới và các tài sản khác của ngân hàng.
Vốn từ việc bán chứng khoán chuyển về ngân hàng. Chúng từ nhận nợ của các khách hàng vay vốn được xếp thành một nhóm các khoản cho vay cùng loại và chứng khoán thể hiện quyền lợi trên các khoản cho vay này được bán cho nhà đầu tư.
Trên thực tế, chứng khoán hoá cho phép các ngân hàng hoạt động trong những thị trường đang xuống dốc có thể da dạng hoá đầu tư sang các thị trường khác, bù đắp thua lỗ trên thị trường truyền thống bằng những khoản thu nhập từ các thị trường đang phát triển khác.
Chứng khoán hoá cũng là một công cụ hữu hiệu trong việc quản lý rủi ro lãi suất, giúp các ngân hàng có thể dễ dàng thay đổi danh mục dầu tư để cho kỳ hạn của tài sản phù hợp hơn với kỳ hạn của các nguồn vốn.
Hơn nữa, ngân hàng có thể thu thêm được một khoản lệ phí thông qua hoạt động quản lý những tài sản được chứng khoán hoá. Điều này có nghĩa là ngần hàng giám sát quá trình trá nợ của những người vay, thu các khoản thanh toán đến hạn, và đảm bảo có đủ tài sản thế chấp để bảo vệ người đầu tư chứng khoán.
Vốn từ việc bán chứng khoán chuyển về ngân hàng. Chúng từ nhận nợ của các khách hàng vay vốn được xếp thành một nhóm các khoản cho vay cùng loại và chứng khoán thể hiện quyền lợi trên các khoản cho vay này được bán cho nhà đầu tư.
Trên thực tế, chứng khoán hoá cho phép các ngân hàng hoạt động trong những thị trường đang xuống dốc có thể da dạng hoá đầu tư sang các thị trường khác, bù đắp thua lỗ trên thị trường truyền thống bằng những khoản thu nhập từ các thị trường đang phát triển khác.
Chứng khoán hoá cũng là một công cụ hữu hiệu trong việc quản lý rủi ro lãi suất, giúp các ngân hàng có thể dễ dàng thay đổi danh mục dầu tư để cho kỳ hạn của tài sản phù hợp hơn với kỳ hạn của các nguồn vốn.
Hơn nữa, ngân hàng có thể thu thêm được một khoản lệ phí thông qua hoạt động quản lý những tài sản được chứng khoán hoá. Điều này có nghĩa là ngần hàng giám sát quá trình trá nợ của những người vay, thu các khoản thanh toán đến hạn, và đảm bảo có đủ tài sản thế chấp để bảo vệ người đầu tư chứng khoán.
Trong khi ngân hàng tiếp tục quản lý các tài sản đảm bảo cho chứng khoán, ngân hàng có thể đưa các tài sản này ra ngoài Bảng cân đối kế toán, từ đó sẽ loại bỏ được rủi ro nếu như các khoản cho vay không được hoàn trả hoặc nếu như lãi suất thay đổi theo xu hướng giảm thấp giá trị của tài sản. (Chứng khoán hoá có xu hướng rút ngắn kỳ hạn và giảm bớt sự nhạy cảm của tài sản ngân hàng với những thay đổi lãi suất). Một ngân hàng cũng có thể tạo được thu nhập từ sự chênh lệch giữa lãi suất trên các tài sản được chứng khoán hoá và lãi suất trả cho những người nắm giữ chứng khoán phát hành trên cơ sở các tài sản đó. Hơn nữa, các khoản thuế phải nộp có thể giảm do chi phí trả lãi được miễn thuế khi tài sản được chứng khoán hoá và không có yêu cầu dự trữ bắt buộc đối với dòng tiền tạo ra từ hoạt động này.
Tuy nhlên, các tài sản được tập hợp để phát hành chứng khoán phải có cùng tiêu chuẩn về chất lượng, mục đích và các đặc điểm đầu tư (như lãi suất cao, hoặc có thể bán dễ dàng) nhằm thu hút giới đầu tư.
Từ khóa tìm kiếm
nhiều: chứng
khoán hóa, nghiệp vụ
ngân hàng thương mại



