Theo James các quy định pháp lý không phải là động cơ duy nhất cho hoạt động bán nợ, bảo lãnh tín dụng và các công cụ huy động vốn phái sinh khác, James còn xem đây là các công cụ thay thế tốt hơn cho các món vay thế chấp bởi vì ngân hàng bị cấm bán các khoản tiền gửi có bảo đảm (ngoại trừ các khoản tiền gửi của chính phủ). James cho ràng cả những quy định cũng như hoạt đông bảo hiểm tiền gửi của chính phủ đều có thể là những khuyến khích đối với ngân hàng trong việc thực hiện các hoạt động ngoài Bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, nếu các dịch vụ mới và các công cụ mới làm tăng giá trị của ngân hàng (như làm tăng giá trị cổ phiếu của ngân hàng) thì việc Chính phủ quản lý quá chặt các hoạt này sẽ có thể là một sai lầm.
Các công cụ tín dụng phái sinh: những thay thế ngày càng quan trọng cho chứng khoán hoá và bán nợ.
Chứng khoán hoá tài sản, bán nợ và bảo lãnh tín dụng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro tín dụng của danh mục cho vay, đồng thời các hoạt động này cũng hạn chế quy mô rủi ro lãi suất mà ngân hàng phải đối mặt. Ví dụ, việc loại bỏ một lượng lớn các khoản nợ khỏi Bảng cân đối kế toán làm giảm rủi ro tín dụng tương ứng với số vốn này. Tương tự như vậy, một ngân hàng vừa cho vay sẽ có thể bán ngay khoản nợ này cho các nhà đầu tư và theo đó các nhà dẫu tư sẽ chịu toàn bộ rủi ro của khoản cho vay.
Tuy nhiên nghiệp vụ bán nợ và chứng khoán hoá tài sản nhìn chung không linh hoạt đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng có nhiều khoản cho vay với những đặc điểm khác nhau – như những khoản cho vay kinh doanh thưởng không giống nhau về kế hoạch thanh toán cũng như về mức độ rủi ro dự tính. Các công cụ tín dụng phái sinh (credit derivatives) – các hợp đồng tài chính bảo vệ người thụ hưởng trong trường hợp khoản nợ không thể được thanh toán – có thể được sử dụng hiệu quả trong việc giảm rủi ro tín dụng cũng như giảm rủi ro lãi suất của ngân hàng.
Đọc thêm tại:



