Khi các khoản cho vay này nằm trong bảng cân đối, ngân hàng vẫn phải đáp ứng yêu cầu bắt buộc về vốn chủ sở hữu để đảm bảo cho chúng. Trong khi đó, vì các khoản cho vay dùng làm vật thế chấp thường có giá trị lớn hơn lượng trái phiếu phát hành nên ngân hàng cần phải tăng cường huy động tiền gửi và đi vay để bù đắp cho phần chênh lệch; điều này làm tăng quy mô nguồn vốn và cũng làm tăng yêu cầu dự trữ bắt buộc của ngân hàng.
Bên cạnh các khoản cho vay thế chấp nhà còn có nhiều các loại tài sản khác được chứng khoán hoá. Ví dụ, tháng 10/1986, Công ty First Boston một trong các ngân hàng đầu tư lớn thế giới, đã công bố kế hoạch bán 3,2 tỷ USD chứng khoán trên các khoản cho vay mua ô tô lãi suất thấp của Công ty General Motors Acceptance (GMAC). Một đặc điểm mới là cấu trúc ưu tiên bậc thang của loại chứng khoán này bao gồm các loại trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, mỗi loại có quyền ưu tiên khác nhau đối với thu nhập từ các khoản cho vay mua ô tô được chứng khoán hoá. Một Công ty con của First Boston đã mua các món cho vay đó từ GMAC, vì thế các nhà đầu tư nắm giữ các trái phiếu này không nhận được sự hỗ trợ từ Công ty First Boston cũng như từ GMAC trong trường hợp một số khoản cho vay không được thanh toán. Tuy nhlên, GMAC đã cam kết sẽ mua lại tối đa 5% các khoản cho vay được chứng khoán hoá nhằm bù đắp cho khoản cho vay không thể thu hồi.
Một ví dụ quan trọng khác về các khoản cho vay được chứng khoán hoá là thị trường chiết khấu nợ đối với các nước kém phát triển (LDCs) của các tập đoàn đầu tư Châu Âu. Các khoản cho vay quốc tế chủ yếu dành cho Chính phủ và các Công ty da quốc gia, thưởng không được trả đúng hạn. Hơn nữa, nhiều hoạt động chứng khoán hoá trong nước dã phát sinh từ tình trạng vỡ nợ mà các ngân hàng phải đối mặt – như sự vỡ nợ của các khoản tín dụng nông nghiệp, năng lượng, cho vay bất động sản.
Chứng khoán hoá được xem như một phương pháp lành mạnh hoá danh mục đầu tư của ngân hàng. Với một số lượng hạn chế các khoản cho vay rủi ro và quá hạn, tình hình tài chính của ngân hàng sẽ vững mạnh hơn và ngân hàng có thể hạ thấp chi phí vay vốn. Điều quan trọng hơn là chứng khoán hoá làm tăng tính thanh khoản và tính đa dạng của danh mục đầu tư và phương pháp này có thể dược sử dụng để giảm rủi ro lãi suất vì kỳ hạn của tài sản sẽ khớp hơn với kỳ hạn của nguồn vốn.
Từ khóa tìm kiếm
nhiều: chung
khoan hoa, nghiep
vu ngan hang



