Hiện nay người ta vẫn chưa tìm thấy một bằng chứng thuyết phục nào về vấn đề liệu sự ổn định trong kết quả kinh doanh – bao gồm ROA (thu nhập trên tài sản) và ROE (thu nhập trên vốn chủ sở hữu) – của ngân hàng có tạo ra sự ổn định trong tỷ lệ thu. Trên thực tế, thị trường bán nợ đã giảm mạnh trong những năm 90. Có nhiều nhân tố tác động đến sự sụt giảm này: Nhiều hãng kinh doanh không vay vốn từ ngân hàng dẫn dến sự sụt giảm số lượng các khoản tín dụng đủ chất lượng để bán. Hoạt động sát nhập và mua lại công ty giảm sút.
Các quy định chặt chẽ hơn về một số loại tín dụng mà trước đây ngân hàng đã từng bán với số lượng lớn (như cho vay đối với giao dịch có mức đòn bẩy cao – ITLTs). Và cuối cùng, các nguồn vốn khác của ngân hàng đã tăng nhanh do sự nới rộng những quy định (như có ít hạn chế hơn đối với tiền gửi có kỳ hạn và mở rộng quyền bảo lãnh phát hành giấy nợ ngắn hạn của các ngân hàng Mỹ).
Tuy nhlên, một số chuyên gia ngân hàng dự đoán về xu hướng gia tăng trở lại đối với hoạt động bán nợ trong tương lai do: xu hướng áp dụng chế độ kế toán theo giá trị thị trường (market value accounting) trong hoạt động ngân hàng, hệ thống giúp cho người mua có thông tin tốt hơn về các khoản tín dụng ngân hàng; yêu cầu vốn chủ sở hữu chặt chẽ hơn (đặc biệt đối với các khoản cho vay thương mại), khuyến khích ngân hàng liếp tục bán các khoản tín dụng để hạ thấp mức vốn yêu cầu. Ngoài ra, còn một lý do khác cho sự tái khởi sắc của thị trường mua bán nợ là ngày càng nhiều ngân hàng lớn (như Bankers Trust Company của New York và ING Bank của Hà Lan) thực hiện các hoạt động mua bán nợ thay cho hoạt động cho vay truyền thống.
Từ khóa tìm kiếm
nhiều: chứng
khoán hóa, các nghiệp
vụ ngân hàng



