Để hiểu hơn về hợp đồng trao đổi, chúng ta cần thấy rằng tỷ lệ vỡ nợ đối với hợp đồng trao đổi là rất nhỏ. Như chúng ta đã thấy, tại ngày thanh toán, các bên tham gia hợp đồng trao đổi chỉ chuyển phần chênh lệch giữa hai khoản thanh toán lãi. Phần chênh lệch này nhờ hơn rất nhiều so với các khoản thanh toán lải thực tế và rủi ro tín dụng chỉ gán với phần chênh lệch này. Do vậy, đổi với một hợp đóng trao đổi, ngân hàng thường chỉ lính toán tới phần chênh lệch cho cả hợp đồng, phán ánh đúng mức rủi ro tín dụng thực tế.
Một loại hình rủi ro thường gán với hợp đồng trao đổi là rủi ro cư bán (basic risk), riù ro cơ bán xuất hiện bới vì lãi SUÍĨI làm tiêu chuẩn cho các điều khoản trong hợp đồng (chẳng hạn lãi suất trái phiếu dài hạn, lãi suất LIBOR) thường không giống lãi suất của tài sán và nợ mà các bên nám giữ. Điều này có nghĩa rằng sự thay đổi của lãi suất tham chiếu có thế không giống như sự vận động trong lãi suất của lài sán và nợ của mỗi bên.
Một loại hình rủi ro thường gán với hợp đồng trao đổi là rủi ro cư bán (basic risk), riù ro cơ bán xuất hiện bới vì lãi SUÍĨI làm tiêu chuẩn cho các điều khoản trong hợp đồng (chẳng hạn lãi suất trái phiếu dài hạn, lãi suất LIBOR) thường không giống lãi suất của tài sán và nợ mà các bên nám giữ. Điều này có nghĩa rằng sự thay đổi của lãi suất tham chiếu có thế không giống như sự vận động trong lãi suất của lài sán và nợ của mỗi bên.
Một giao dịch SVVAP (trao đổi) có thể được thực hiện, trong đó người vay có phản hạng tín dụng thấp đồng ý thanh toán chi phí lãi theo mức lãi suất 9% cho người vay có phân hạng tín dụng cao, do đó tiết kiệm được chi phí lãi vay dài hạn là 2,5% bơi vì đáng ra nó phải trả 11,5% cho khoản tín dụng dài hạn. Người vay có phân hạng tín dụng cao đồng ý thanh toán chi phí lãi theo mức lãi suất bằng lãi suất cơ bản trừ đi 0,25% cho người vay có phân hạng tín dụng thấp, do đó tiết kiệm được chi phí lãi vay ngân hạn là ~0,25%. Nên nhớ rằng: Người vay có phân hạng tín dụng thấp tiết kiệm^được chi phí đồng trao đổi cũng liềm ẩn lủi ro lãi suất quy mó lớn.
Ví dụ, nếu đường cong thu nhập đi xuống, người mua hợp đồng (người trá lãi suất cố định) sẽ nhận được những khoản thanh toán lãi lớn hơn từ người bán hợp đồng (người trả lãi suất thả nổi) trong suốt thời hạn của hợp đồng. Điều này sẽ khiến cho người bán huỷ hợp đồng trước hạn và có thể buộc người mua hợp đồng phải tái đàm phán cho một hợp đồng mới, với những điều khoản hợp lý hơn, phù hợp với điều kiện thị trường mới.
Từ khóa tìm kiếm
nhiều: chứng
khoán hóa, các nghiệp
vụ ngân hàng



