Pages

Subscribe:

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Sử dụng lãi suất trần, sàn và sự kết hợp

Sử dụng lãi suất trần, sàn và sự kết hợp
      Cuối cùng, có một phương pháp phòng chống rủi ro lãi suất quen thuộc nhất được các ngân hàng và khách hàng sử dụng rộng rãi đó là lãi suất trần, lãi suất sàn và sự kết hợp trần – sàn.
Trần lãi suất
      Lãi suất trần được sử dụng để chống lại những tổn thất do lãi suất thị trường tăng. Người vay được đảm bảo rằng tổ chức cho vay sẽ không tăng lãi suất của khoản tín dụng vượt quá mức trần. Còn có một cách lựa chọn khác đó là: người vay có thể mua một hợp đồng về trần lãi suất từ bên thứ 3 – bên cam kết thanh toán cho bất kỳ khoản lãi nào vượt qua mức trần. Ví dụ, nếu ngân hàng mua một hợp đồng lãi suất trần là 11% cho khoản tín dụng 100 triệu USD mà nó vay được trên thị trường đố la Châu Âu.

     Hợp đồng trần lãi suất này đảm bảo cho ngân hàng rằng chi phí vay thực tế không thể vượt quá 11%. Nếu ngân hàng bán hợp đồng trần lãi suất cho khách hàng vay vốn, nó sẽ phải đối mặt với rủi ro lãi suất thay cho khách hàng nhưng đổi lại ngân hàng sẽ thu được một khoản phí (trần phí), đền bù trong việc chấp nhận rủi ro. Khi một ngân hàng phải đảm nhận số lượng lớn các hợp đồng trần lãi suất, nó có thể hạn chế toàn bộ rủi ro bằng những kỹ thuật phòng chống khác như tiến hành nghiệp vụ trao đổi lãi suất. Trần lãi suất được áp dụng rất đơn giản.

Sử dụng lãi suất trần

      Hãy trở lại ví dụ trước – ngân hàng mua hợp đồng trần lãi suất 11% từ một tổ chức tài chính khác cho khoản tín dụng 100 triệu USD kỳ hạn 1 năm mà ngân hàng vay được trên thị trường đô la Châu Âu. Giả sử lãi suất thị trường tâng lên tới 12%. Lúc đó, tô chức tài chính bán hợp đồng sẽ phải thanh toán cho ngân hàng mua 1% chi phí lãi tăng lên. Ngân hàng nhộn được số tiền là:
[ Lãi suất thị trường - Trần lãi suất ] X Số tiền vay = [ 12% -11%] X 100 triệu = 1 triệu 
      Như vậy, chi phí vay vốn thực tế của ngân hàng có thể giao đông nhưng sẽ không vượt quá 11%. Ngân hàng mua hợp đồng trần lãi suất để phòng ngừa những tổn thất có thể xảy ra, ví dụ như khi tài trợ tài sản lãi suất cố định bằng các khoản nợ lãi suất thả nổi, khi có trạng thái khe hở kỳ hạn dương hay nắm giữ một danh mục chứng khoán lớn mà giá trị sẽ giảm nếu lãi suất tăng.


Đọc thêm tại: