Pages

Subscribe:

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Những vấn đề về pháp lý đối với hợp đồng bảo lãnh tín dụng

         Sự gia tăng nhanh của hoạt động bảo lãnh tín dụng trong các ngân hàng lớn đã làm giới lập pháp lo lắng về khả năng phá sản của không ít ngân hàng nếu như có nhiều thư bảo lãnh tín dụng bị truy đòi hơn mức dự kiến. Nhiều nhà lập pháp e ngại rằng những người đầu tư vào chứng khoán ngân hàng (bao gồm cả người gửi tiền không được bảo hiểm) có thể ít quan tâm nếu như một ngân hàng cho vay ít đi song cùng lúc lại cung cấp một lượng lớn các hợp đồng bảo lãnh tín dụng. Nhưng thật không may là có rất nhiều dộng lực thúc đẩy ngân hàng tham gia phát hành thư bảo lãnh tín dụng như chi phí tương đối thấp và tính đòn bẩy cao do không có yêu cầu về dự trữ, ít nhất là trong thời gian đầu của hợp đồng.

hợp đồng bảo lãnh tín dụng

         Các cơ quan quản lý ngân hàng và các cơ quan luật pháp đang cố gắng giữ tình trạng rủi ro trong hoạt động bảo lãnh tín dụng của ngân hàng ở mức có thể kiểm soát dược. Nhiều quy định mới dược ban hành bao gồm:
  1. Khi xem xét việc chấp thuận phát hành thư bảo lãnh tín dụng, ngân hàng phải áp dụng cùng một hệ thống tiêu chuẩn tín dụng như đối với cho vay trực tiếp.

  2. Ngân hàng phải xem thư bảo lãnh tín dụng như các khoản tín dụng khi đánh giá mức độ rủi ro đối với mỗi khách hàng rlêng lẻ.

  3. Theo Hiệp ước quốc tế năm 1987 – 1988 về vốn ngân hàng giữa Mỹ và các quốc gia cho vay khác, hầu hết các hợp đồng bảo lãnh tín dụng đều phải được xét đến khi tính toán yêu cầu vốn chủ sở hữu cho các ngân hàng, cũng như đối với những khoản cho vay thực tế.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: chứng khoán hóa, các nghiệp vụ ngân hàng

Động cơ cho hoạt động bán nợ

     Theo James các quy định pháp lý không phải là động cơ duy nhất cho hoạt động bán nợ, bảo lãnh tín dụng và các công cụ huy động vốn phái sinh khác, James còn xem đây là các công cụ thay thế tốt hơn cho các món vay thế chấp bởi vì ngân hàng bị cấm bán các khoản tiền gửi có bảo đảm (ngoại trừ các khoản tiền gửi của chính phủ). James cho ràng cả những quy định cũng như hoạt đông bảo hiểm tiền gửi của chính phủ đều có thể là những khuyến khích đối với ngân hàng trong việc thực hiện các hoạt động ngoài Bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, nếu các dịch vụ mới và các công cụ mới làm tăng giá trị của ngân hàng (như làm tăng giá trị cổ phiếu của ngân hàng) thì việc Chính phủ quản lý quá chặt các hoạt này sẽ có thể là một sai lầm.

     Các công cụ tín dụng phái sinh: những thay thế ngày càng quan trọng cho chứng khoán hoá và bán nợ.

hoạt động bán nợ

    Chứng khoán hoá tài sản, bán nợ và bảo lãnh tín dụng giúp ngân hàng hạn chế rủi ro tín dụng của danh mục cho vay, đồng thời các hoạt động này cũng hạn chế quy mô rủi ro lãi suất mà ngân hàng phải đối mặt. Ví dụ, việc loại bỏ một lượng lớn các khoản nợ khỏi Bảng cân đối kế toán làm giảm rủi ro tín dụng tương ứng với số vốn này. Tương tự như vậy, một ngân hàng vừa cho vay sẽ có thể bán ngay khoản nợ này cho các nhà đầu tư và theo đó các nhà dẫu tư sẽ chịu toàn bộ rủi ro của khoản cho vay.

    Tuy nhiên nghiệp vụ bán nợ và chứng khoán hoá tài sản nhìn chung không linh hoạt đặc biệt là trong trường hợp ngân hàng có nhiều khoản cho vay với những đặc điểm khác nhau – như những khoản cho vay kinh doanh thưởng không giống nhau về kế hoạch thanh toán cũng như về mức độ rủi ro dự tính. Các công cụ tín dụng phái sinh (credit derivatives) – các hợp đồng tài chính bảo vệ người thụ hưởng trong trường hợp khoản nợ không thể được thanh toán – có thể được sử dụng hiệu quả trong việc giảm rủi ro tín dụng cũng như giảm rủi ro lãi suất của ngân hàng.


Đọc thêm tại:

Rủi ro đối với bảo lãnh tín dụng

       Ngân hàng và các nhà đầu tư khác với tư cách là người thụ hưởng thư bào lãnh sẽ phải đối mặt với những rủi ro gì? Ngân hàng và các tổ chức cho vay sẽ phải đối mặt với một số rủi ro khi sử dụng công cụ thư bảo lãnh tín dụng. Ví dụ như, tổ chức phát hành có thể không chi trả được khoản tín dụng đã cam kết.

        Do thư bảo lãnh tín dụng không hoàn hào như một khoản tiển gửi có bảo hiểm nên ngân hàng nắm giữ thư bảo lãnh tín dụng với tư cách là người thụ hưởng sẽ nhận được rất ít hoặc không được gì nếu như người phát hành thư tín dụng đó phá sản. Hơn nữa, có một số điểu luật quy định là ngan hàng có thể không bị bắt buộc phải thanh toán thư bảo lãnh tín dụng nếu như điểu này vi phạm luật ngân hàng (ví dụ như trường hợp số lượng phải trả vượt quá giới hạn cho vay theo quy định của ngân hàng).

Rủi ro đối với bảo lãnh tín dụng

        Ngân hàng dựa vào sự bảo lãnh tín dụng của các tổ chức khác cần chú ý rằng những hợp đồng bảo lãnh như vậy phải có đầy đủ tài liệu đảm bảo quyền yêu cầu thanh toán. Các ngân hàng thụ hưởng có thể không nhận được tiền từ người phát hành trừ phi tất cả các điều kiện cần có cho thư tín dụng được đáp ứng. Hơn nữa, luật phá sản cho thây sự nguy hiểm tiềm tàng đối với các ngân hàng khi người thụ hưởng cố gắng truy đòi thư tín dụng. Một số quy định pháp lý chỉ ra rằng, bát cứ khoản thanh toán nào được thực hiện cho thư bảo lãnh tín dụng có hiệu lực được xem là khoản mục ưu tlên (preierence items) theo luật phá sản và vì vậy nó phải được thanh toán lại cho bên yêu cầu mở thư bảo lãnh (account party) trong trường hợp bên bảo lãnh phá sản.                                                 

       Liệu các ngân hàng phát hành thư bảo lãnh tín dụng có phải đối mặt với rủi ro nào không? Câu trả lời là có, đó là rủi ro về lãi suất và khả năng thanh khoản. Nếu ngân hàng phát hành bị buộc phải thanh toán cho thư tín dụng mà không được thông báo trước, ngân hàng có thể phải huy động một lượng vốn đáng kể với lãi suất cao. Trên thực tế, nếu thư bảo lãnh tín dụng có giá trị lớn so với khả năng tín dụng của ngân hàng thì ngân hàng có thể phải vay vốn với nhiều điều kiện bất lợi. Các ngân hàng có thể sử dụng một số công cụ để giảm bớt rủi ro của thư bảo lãnh tín dụng như :
  1. Thưởng xuyên thương lượng để thay đổi các điều khoản trong hợp đồng tín dụng của khách hàng sử dụng thư bảo lãnh sao cho chúng phù hợp với tinh trạng hoạt động của khách hàng và do vậy người thụ hưởng không cần thiết phải hối thúc thanh toán.

  2. Đa dạng hoá việc phát hành thư bảo lãnh tín dụng theo vùng và theo ngành để phân tán rủi ro.

  3. Bán quyền tham gia đối với các hợp đồng bảo lạnh tín dụng nhằm chia sẻ rủi ro với các tổ chức cho vay khác.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: chung khoan hoa, nghiep vu ngan hang

Kết cấu của thư bảo lãnh tín dụng và định giá thư bảo lãnh tín dụng

       Kết cấu của thư bảo lãnh tín dụng

     Một SLC có 3 phần chính: (1) Cam kết của người phát hành (thưởng là ngân hàng hoặc Công ty bảo hiểm). (2) Bên được bảo lãnh tín dụng (account party). (3) Bên được thụ hưởng (beneficiary) (thưởng là ngân hàng hoặc nhà đầu tư khác quan tâm tới sự an toàn của khoản cho vay đổi với bên được bảo lãnh. Đặc trưng cơ bản của SLC là chúng thưởng không nằm trong Bảng cân đối kế toán của người phát hành hay người thụ hưởng.

        Bởi vì cam kết bảo đảm này chỉ là một trách nhiệm tạm thòi (contingent liability). Trong nhiều trường hợp, cam kết sẽ kết thúc mà không cần thực hiện. Việc bồi hoàn vốn cho bên thụ hưởng chỉ được thực hiện khi có những sự việc ngoài dự kiến xảy ra đối với bên xin mờ thư bảo lãnh. Hơn nữa, người thụ hưởng chỉ có quyền đòi hoàn trả từ phía người phát hành khi họ đáp ứng đầy dù các điều kiện ghi trong thư bảo lãnh. Nếu bất cứ điều kiện nào không được đáp ứng thì người phát hành không bị bắt buộc phải chi trả.

         Giá trị và định giá thư bảo lãnh tín dụng

      Theo các điểu khoản của một SLC, ngân hàng phát hành sẽ thanh toán mọi khoản tiền lãi và vốn mà người được bảo lãnh nợ nhưng chưa thanh toán cho bên thụ hưởng. Ngân hàng nhận được một khoản phí cho việc chấp nhận rủi ro mà bên thụ hưởng phải gánh chịu nếu như không có thư bảo lãnh. Vì vậy. bên thụ hưởng có thể sẵn sàng cho bên mở SLC vay nhiều hơn hoặc cung cấp cùng một lượng vốn nhưng với lãi suất thấp hon.

      Nhìn chung, người yêu cẩu mở SLC sẽ sử dụng thư bảo lãnh của ngân hàng nếu như chi phí cho thư bảo lãnh thấp hơn lợi ích do SLC mang lại.

         Vì vậy, nếu gọi p – là giá của thư bảo lãnh

       NL – là chi phí của khoản cho vay không được bảo đảm GL – là chi phí của khoản cho vay được bảo đảm một người đi vay sẽ sử dụng thư bảo lãnh nếu như p < NL – GL

Kết cấu của thư bảo lãnh tín dụng

       Ví dụ: Một khách hàng có thể vay vốn không bảo đảm với lãi suất 7,5%, một giấy bảo lãnh tín dụng có chất lượng sẽ giảm chi phí trả lãi của khoản tín dụng xuống còn 6,75% và mức phí phát hành thư bảo lãnh là 0,5% giá trị danh nghĩa của khoản cho vay. Như vậy, rõ ràng khách hàng sẽ sử dụng thư bảo lãnh bởi vì phần tiết kiệm được từ việc sử dụng thư bảo lãnh là (7,5% – 6,75%) hay 0,75%, lớn hơn 0,5% phí trả cho thư bảo lãnh.

        Đối với người thụ hưởng giá trị của SLC chính là chất lượng tín dụng của người phát hành và chi phí về thông tin để đánh giá chất lượng tín dụng của họ. Rõ ràng là thư bảo lãnh của ngân hàng có chất lượng tín dụng cao sẽ được bên thụ hưởng đánh giá cao hơn. Bèn yêu cầu (account party) có lẽ sẽ không nhờ một ngân hàng hoạt động yếu kém phát hành thư bảo lãnh tín dụng bởi vì một thư bảo lãnh như vây sẽ cho họ ít sức mạnh đàm phán trong hợp đồng với bên thụ hưởng. Nếu chi phí để có được thõng tin về tình trạng của ngân hàng bảo lãnh hoặc về bên yêu cầu mở thư (account party) là cao, bên thụ hưởng thường nhân được ít lợi ích từ thư bảo lãnh.



Thư bảo lãnh tín dụng

        Một trong những thị trường tăng trường nhanh nhất trong vài năm gần đây là thị trường những công cụ bảo lãnh tài chính (financial guarantees) – được sử dụng để tàng cường chất lượngtín dụng cho ngữ vay vốn, giúpchức cấp tín dụng tránh khỏi tình trạng mất vốn cho vay đồng thời giảm chi phí của người di vay. Tóm lại, các phương thức bảo lãnh tài chính được sử dụng với mục đích đảm bảo sự hoàn trả vốn và lãi của khoản vay đúng thời hạn, ngay cả khi người vay vốn phá sản hoặc không thể tuân thù mọi điều khoản trong hợp đồng. Một trong những loại hình bảo lãnh tài chính phổ biến nhất trong hệ thông ngăn hàng là thư bảo lãnh tín dụng (Standby letter of credn – SLC). SLC bao gồm 2 loại:

(1) Thư bảo lãnh thực hiện, trong đó một ngân hàng bảo đảm rằng một công trình JTV dựng hoặc một dự án sẽ được hoãn thành đúng hạn.

(2) Thư bảo lãnh thanh toán, trong đó một ngân hàng cam kết thanh toán cho các gửi nợ của công ty, trái khoán chính phù liên bang và địa phương trong trường hợp tí chức đi vay không thể hoàn trả.

Thư bảo lãnh tín dụng

       Thư bảo lãnh cho phép người đi vay nhận được lượng tín dụng cán thiết với chi phí thấp hơn và với các điều khoản linh hoạt hơn. Tuy nhlên, để bán các công cụ bào lãnh này một cách hiệu quả, ngân hàng phải được xếp hạng tín dụng cao hơn khách hàng. Do chất lượng tín dụng của nhiều ngân hàng giảm sút trong những năm gần đây, các đối thù cạnh tranh (như những ngân hàng nước ngoài và Công ty bảo hiểm) dần dần đã giành được thị phán lớn hơn trên thị trường bảo lãnh tín dụng.

      Thư bảo lãnh tín dụng (SLC) là một quy định về trách nhiệm của người phát hành SLC. Ngân hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng sẽ nhận được một khoản phí cho việc bảo lãnh tín dụng đối với khách hàng, hoặc bảo lãnh việc thực hiện đầy đủ hợp đồng của khách hàng vớibên thứ ba. Những lợi ích cơ bản của ngân hàng phát hành thư bảo lãnh tín dụng là


  1. Ngân hàng sẽ nhận dược một khoản phí cho việc cung cấp dịch vụ bào lãnh tín dụng (thưởng khoảng từ 0,5% đến 1% tổng lượng tín dụng thực hiện).

  2. Ngân hàng có thể giúp dỡ khách hàng vay vốn với chi phí thấp hơn nhờ có sự bài lãnh tín dụng.

  3. Thư bảo lãnh thưởng được phát hành với chi phí tương đối thấp do ngân hàng phát hành có thể biết rõ về tình hình tài chính của khách hàng (ví dụ như các khách hảng đã từng xin vay vốn của ngân hàng).

  4. Trẽn thực tế rất ít khi mà người phát hành thư bảo lãnh bị yêu cầu phải thanh toác cho hợp đồng bảo lãnh.

Ổn định trong kết quả kinh doanh

       Hiện nay người ta vẫn chưa tìm thấy một bằng chứng thuyết phục nào về vấn đề liệu sự ổn định trong kết quả kinh doanh – bao gồm ROA (thu nhập trên tài sản) và ROE (thu nhập trên vốn chủ sở hữu) – của ngân hàng có tạo ra sự ổn định trong tỷ lệ thu. Trên thực tế, thị trường bán nợ đã giảm mạnh trong những năm 90. Có nhiều nhân tố tác động đến sự sụt giảm này: Nhiều hãng kinh doanh không vay vốn từ ngân hàng dẫn dến sự sụt giảm số lượng các khoản tín dụng đủ chất lượng để bán. Hoạt động sát nhập và mua lại công ty giảm sút.

       Các quy định chặt chẽ hơn về một số loại tín dụng mà trước đây ngân hàng đã từng bán với số lượng lớn (như cho vay đối với giao dịch có mức đòn bẩy cao – ITLTs). Và cuối cùng, các nguồn vốn khác của ngân hàng đã tăng nhanh do sự nới rộng những quy định (như có ít hạn chế hơn đối với tiền gửi có kỳ hạn và mở rộng quyền bảo lãnh phát hành giấy nợ ngắn hạn của các ngân hàng Mỹ).

kết quả kinh doanh

       Tuy nhlên, một số chuyên gia ngân hàng dự đoán về xu hướng gia tăng trở lại đối với hoạt động bán nợ trong tương lai do: xu hướng áp dụng chế độ kế toán theo giá trị thị trường (market value accounting) trong hoạt động ngân hàng, hệ thống giúp cho người mua có thông tin tốt hơn về các khoản tín dụng ngân hàng; yêu cầu vốn chủ sở hữu chặt chẽ hơn (đặc biệt đối với các khoản cho vay thương mại), khuyến khích ngân hàng liếp tục bán các khoản tín dụng để hạ thấp mức vốn yêu cầu. Ngoài ra, còn một lý do khác cho sự tái khởi sắc của thị trường mua bán nợ là ngày càng nhiều ngân hàng lớn (như Bankers Trust Company của New York và ING Bank của Hà Lan) thực hiện các hoạt động mua bán nợ thay cho hoạt động cho vay truyền thống.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chứng khoán hóa, các nghiệp vụ ngân hàng

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Nghiệp vụ ngoài bảng cân đối và hoạt động ngân hàng

            Thông thường, ngân hàng không bán các khoản cho vay. Thay vào đó, ngân hàng bán quyền yêu cầu đối với thu nhập từ các khoản cho vay và quyền về thu nhập của người mua không được ngân hàng hoặc khách hàng vay vốn bảo đảm nếu như khoản cho vay không được hoàn trả theo đúng hợp đồng!

          Cuối cùng, các ngân hàng nhận ra rằng, huy động vốn bằng cách bán các khoản tín dụng có thể chịu ảnh hưởng của một số nhân tố mang tính chu kỳ. Trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng nhanh, lượng cung trên thị trường bán nợ thường tăng. Ngược lại, đặc biệt trong thời kỳ suy thoái, khối lượng các khoản cho vay có thể bán giảm đáng kể, nhu cầu xin vay thấp và theo đó sẽ có ít khoản cho vay mới.

Nghiệp vụ ngoài bảng cân đối

           Sự gia tăng trong các hoạt dộng ngoài bảng cân đối dường như đã tạo ra những tác động đáng kể tới hoạt động cũng như tới sự thành công của các ngân hàng. Một số nghiên cứu gần đây của nhiều nhà kinh tế cho thấy rằng hoạt động ngoài bảng cân đối đã thực sự giúp: ngân hàng hạn chế những biến động trong thu nhập ròng. Đồng thời, cùng với việc ngân hàng sử dụng các công cụ ngoài bảng, sự biến động trong mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi trong những năm gần đây cũng không còn quá lớn. Tuy nhlên một số nhà kinh tế lại cho rằng việc sử dụng các cổng cụ ngoại bảng không phải là nguyên nhân duy nhất tạo ra sự ổn định trong thu nhập, ví dụ, thu nhập lãi có thể sẽ ổn định hơn đo ngân hàng trung ương: thực thi một chính sách tiền tệ ổn định hay bởi vì các ngân hàng và các cơ quan quản lý ngân hàng chú trọng hơn vào vấn đề chất lượng tín dụng và rủi ro trong hoạt động.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chung khoan hoa, nghiep vu ngan hang

Bán các khoản cho vay hay chương trình thanh toán từ các khoản nợ

       Hoạt động bán nợ gồm 2 loại chính: Bán nợ tham gia (Participation loan) và chuyển nhượng nợ (assignment). Với loại thứ nhất, người mua nợ không phải là một bên trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và người đi vay. Chỉ trong trường hợp có những thay đổi quan trọng trong hợp đồng vay nợ thì người mua mới có thể tác động đến các điều khoản của hợp đồng tín dụng.

        Vì vây, người mua phải đối mặt với rủi ro lớn, như ngân hàng bán khoản cho vay bị phá sản hoặc người đi vay không có khả năng trả nợ. Vì thế, người mua phải theo sát cả người đi vay lẫn ngân hàng bán. Do những hạn chế này, phần lớn các khoản cho vay dược bán dưới dạng chuyển nhượng nợ (assignment).

Bán các khoản cho vay

        Với phương pháp này, quyền sở hữu khoản cho vay được chuyển cho người mua và người mua có quyền yêu cầu trực tiếp với người đi vay. Trong một số trường hợp, điều này có nghĩa người đi vay phải đồng ý với việc bán khoản nợ của họ trước khi sự chuyển nhượng được thực hiện.

        Một hình thức bán nợ thứ ba, gần giống mới bán nợ tham gia là bán nợ từng phần (loan strip). Ngân hàng chia một khoản nợ dài hạn thành các khoản nợ ngắn hạn, thưởng có kỳ hạn rất ngắn khoảng vài ngày hoặc vài tuần, tổ chức mua nợ sẽ nhận được một phần trong tổng số tiền lãi của khoản cho vay. Với loại này, ngân hàng vẫn phải chịu rủi ro vỡ nợ và thưởng phải dành ra một phần vốn của mình để hỗ trợ khoản cho vay đến khi chúng đến hạn thanh toán.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chứng khoán hóa, các nghiệp vụ ngân hàng

Rủi ro tiềm ẩn trong việc bán nợ

        Bán nợ là một nghiệp vụ của ngân hàng đầu tư, trong đó các ngân hàng kinh doanh trên năng lực xác định chất lượng tín dụng của người đi vay và bán khả năng này (được thể hiện trong nội dụng của hợp đồng cho vay) cho các nhà đầu tư khác. Giới đầu tư sẵn sàng mua lại các khoản cho vay của ngân hàng bời vì họ tin tưởng vào khả năng của ngân hàng trong việc xác định những người di vay chát lượng tốt và trong việc ký kết các hợp đồng tín dụng có lợi. Tuy nhlên, bán nợ, với tư cách là một nguồn vốn của ngân hàng cũng tiềm ẩn những rủi ro. Ví dụ, các khoản cho vay chất lượng tốt được mua bán dễ dàng trên thị trường.

        Nhưng nếu nhà quản lý ngân hàng không cẩn thận thì có thể sẽ bán các khoản cho vay chất lượng cao của ngân hàng và để lại lại các khoản tín dụng kém chất lượng làm cho nguồn thu nhập của ngân hàng trở nên bất ổn định. Tình hình này có thể thu hút sự chú ý của các nhà làm luật và ngân hàng sẽ phải đối mặt với yêu cầu tàng vốn chủ sở hữu.

Rủi ro tiềm ẩn trong việc bán nợ

        Hơn nữa, các khoản cho vay được bán từ ngân hàng này cho ngân hàng khác cũng có thể tiềm ẩn rủi ro như việc cho vay trực tiếp với các khách hàng bởi vì ngân hàng bán các khoản tín dụng (selling bank) có thể không chú ý tới việc đánh giá tình hình tài chính của người đi vay. Do vậy, mua các khoản cho vay sẩn có sẽ buộc các ngân hàng mua nợ (purchasing bank) phải xem xét tình hình tài chính không chỉ của ngân hàng bán nợ mà còn của những khách hàng vay vốn.

         Trong một vài trường hợp, ngân hàng bán nợ đồng ý hoàn trả cho tổ chức mua nợ những khoản nợ không thể thu hồi. Trên thực tế, người mua sẽ nhận được một hợp đồng quyền bán (put option) cho phép họ bán lại những khoán tín dụng kém chất lượng cho ngân hàng bán nợ. Quyền này bắt buộc cả người mua và người bán cùng chia sẻ rủi ro vỡ nợ. Ngày nay, cam kết hoàn trả (recourse agreements) không còn phổ biến trong thị trường nợ bởi vì các quy định chính phủ yêu cầu những ngân hàng khi bán các khoản cho vay với điều khoản hoàn trả vẫn phải có dự trữ cho khoản tín dụng đã bán và xem các khoản tín dụng này như một phần trong tài sản của ngân hàng khi xác định yêu cầu vốn chủ sở hữu. Tuy vậy, nhiều ngân hàng dường như vẫn cảm thấy bị áp chế khi phải nhận lại các khoản tín dụng kém chất lượng đã bán cho nhà đầu tư dù rằng không có yêu cầu chính thức nào phải làm như vậy. Lý do đơn giản ở đây là để bảo vệ mối quan hệ tốt giữa ngân hàng và khách hàng.



Lý do của việc sử dụng nghiệp vụ bán nợ

         Có nhiều lý do khiến các ngân hàng lớn cho rằng bán nợ là một phương thức quan trọng trong hoạt động huy động vốn.Một nguyên nhân là bán nợ cho phép ngân hàng loại bỏ những tài sản có lãi suất thấp khỏi danh mục, tạo chỗ cho những tài sản có lãi suất cao hơn khi lãi suất thị trường tàng Việc bán các khoản tín dụng và thay thế chúng bằng các tài sản có tính thanh khoản cao hơn, như chứng khoán chính phủ, có thể làm tăng khả năng thanh khoản của ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu rút tiền gửi và chi trả tiền mặt.

         Hơn nữa, việc bán các khoản cho vay có thể loại bỏ dược rủi ro tín dụng lần rủi ro lãi suất và ngân hàng cũng có thể tạo thu nhập ngay lập tức thay vì chờ đợi các khoản cho vay đến hạn thanh toán. Việc bán các khoản cho vay cũng làm giảm tốc độtăng tài sản của ngân hàng; điều này giúp cho nhà quản lý duy trì tốt hơn sự cân bằng giữa tốc độtăng nguồn vốn và rủi ro tín dụng.

 sử dụng nghiệp vụ bán nợ

         Như vậy, bán nợ giúp ngân hàng làm hài lòng các nhà lập chính sách, những người dã tăng cường áp lực buộc ngân hàng phải loại bỏ các tài sản có mức rủi ro cao và tăng cường vốn ngân hàng. Theo một vài nghlên cứu gần đây của Benveniste và Berger và Hassan, hoạt động bán nợ được các nhà đầu tư trên thị trường vốn cho là một phương pháp giúp các ngân hàng hạn chế rủi ro, giảm chi phí vốn, tăng cường đa dạng hoá dầu tư bởi vì các khoản cho vay cũ dã được thay thế bằng các khoản tín dụng mới. Những ngân hàng mua các khoản tín dụng cũng có thể đa dạng hoá danh mục cho vay, mở rộng danh mục cho vay sang các lĩnh vực mới bên ngoài thị trường truyền thống. Sự đa dạng hoá này có thể giúp hạ thấp rủi ro. giảm chi phí vay nợ của ngân hàng mua nợ.

          Gần đây, Haubrich và Thomson cho rằng sự phát triển của thị trường bán nợ (loan sales market) có ảnh hưởng sâu sắc đối với hoạt động ngân hàng trong tương lai. Sự tăng trưởng của thị trường này có nghĩa là các ngân hàng có thể cho vay mà không cần nhân tiền gửi và chi trả cho tiền gửi bằng cách bán các khoản cho vay. Hơn nữa, nếu như thị trường này tăng trưởng nhanh chóng trong tương lai thì nhu cầu về bảo hiểm tiền gửi hoặc vay mượn từ cửa sổ chiết khấu sẽ giảm.

          Do việc bán các khoản cho vay tương tự như phát hành chứng khoán nên có thể nói công cụ tài chính này của ngân hàng phần nào xoá đi sự khác biệt giữa các ngân hàng với các tổ chức tài chính kinh doanh chứng khoán. Hai nhà kinh tế cũng nêu ra yêu cầu về một chính sách hoàn thiện của chính phủ đổi với các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng để đảm bảo tính cân đối và công bằng về luật pháp giữa các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính khác nhau.


Đọc thêm tại:

Thực tế về việc bán các khoản cho vay

     Thông thường, ngân hàng bán nợ vẫn giữ quyền phục vụ đối với các khoản cho vay được bán. Với quyền này thì các ngân hàng có thể có thu nhập từ lệ phí quản lý khoản vay (thưởng 0,25% hoặc 0,375% tổng giá trị khoản cho vay) từ việc thu nợ rồi chuyển các khoản phải thu này cho những người mua nợ, ngân hàng cũng đồng thời giám sát hoạt động của người đi vay nhằm đảm bảo rằng người đi vay tôn trọng mọi điều khoản của hợp đồng vay vốn.

    Một trong số những thị trường bán nợ phát triển nhất trong vài năm gần đây là thị trường nợ của các nước thế giới thứ 3. Các món nợ cũ của Argentina, Brazil, Mexico, Peru, Philippines và một số nước thế giới thứ ba khác thường được bán với tỷ lệ chiết khấu cao (trong một số trường hợp ở mức thấp khoảng 5 xu cho một USD). Phần lớn các khoản nợ với giá trị hàng triệu USD này do ngân hàng và các công ty hoạt động lâu năm, có kinh nghiêm về nước đi vay mua. Nhiều công ty mua nợ của thế giới thứ ba đã thu được những khoản lời lớn khi tình hình quốc gia con nợ được cải thiện hoặc khi chính phủ mua lại khoản nợ của mình.

bán các khoản cho vay

     Hơn nữa, vào những năm 1990, một thị trường đối với các khoản cho vay kinh doanh lãi suất thả nổi giá trị hàng tỷ USD đã hình thành, trên cơ sở sự tham gia của nhiều công ty bảo hiểm và quỹ tương trợ, những tổ chức đã từng mua các trái phiếu thông thưởng và nay chuyển sang mua các khoản cho vay kinh doanh từ ngân hàng. Theo nhiều nhà đầu tư, những khoản tín dụng này có nhiều ưu điểm hơn trái phiếu trên các mặt như các điều khoản cho vay chặt chẽ, lãi suất thả nổi và tính đa dạng vềkỳ hạn.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chung khoan hoa, nghiep vu ngan hang

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Huy động vốn thông qua việc bán các khoản cho vay

     Các khoản cho vay không chỉ được sử dụng như tài sản thế chấp trong hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút các nguồn vốn mới, mà chúng còn có thể được bán cho một tổ chức cho vay khác. Thực ra, bán các khoản cho vay (loan sales) đã từng được các ngân hàng lớn nhất thực hiện, song hiện nay nghiệp vụ này đã được mở rộng tới tất cả ngân hàng với nhiều quy mô khác nhau.

      Người mua các khoản cho vay chủ yếu là ngân hàng (bao gồm cả những ngân hàng nước ngoài có mục đích tìm kiếm một vị trí chắc chắn trong thị trường nội địa), công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, công ty phi tài chính lớn của Mỹ và Châu Âu, các quỹ tương hỗ (gồm cả các quỹ tập trung mua các món vay có vấn đề) và các ngân hàng đầu tư lớn (như Goldman Sachs và Merrill Lynch). Người bán chủ yếu là các ngân hàng trung tâm tiền tệ (như Bankers Trust Corp ờ New York và Bank of America), các ngân hàng nước ngoài (như ING Bank của Hà Lan).

bán các khoản cho vay

      Ngân hàng thưởng bán những khoản cho vay có kỳ hạn dưới 90 ngày (tuy vậy các khoản cho vay vài tháng hoặc vài năm vẫn được bán với một số quy định cụ thể), có thể là các khoản cho vay mới hay là các khoản dã được đưa vào sổ sách của ngân hàng một thời gian, Thị trường mua bán các khoản cho vay đã tăng giá mạnh trong suốt những năm 80 khi một làn sóng sát nhập và mua lại công tv diễn ra. Điều này dẫn đến sự gia tăng của hàng ngàn các khoản cho vay phục vụ các giao dịch có tỷ lệ đòn bẩy cao (HLTs – highly leveraged transactions). Thị trường này ở Mỹ phát triển gấp hơn 10 lần trong những năm 80 nhưng sau đó dã giảm mạnh vào những năm 90 do hoạt động sát nhập và mua lại công ty dần ổn định và do các tổ chức ngân hàng liên bang đã thắt chặt quy định về việc chấp nhận các khoản cho vay như vậy.

      Nhìn chung, các khoản cho vay liên quan tới HLT được bảo đảm bằng tài sản của các công ty đi vay và có kỳ hạn dài (trong một số trường hợp lén tới 8 năm, lãi suất cho vay thả nổi gắn với lãi suất cơ bản LIBOR hoặc với những mức lãi suất công khai). Trái lại, phần lớn các món vay khác mà ngân hàng bán có kỳ hạn vài tuần hoặc vài tháng, giá trị tối thiểu là 1 triệu USD, được cung cấp cho những người đi vay có chất lượng tín dụng cao với mức lãi suất dược xác định trên cơ sở lãi suất cho vay kinh doanh ngắn hạn (như lãi suất thị trường hiện hành của giấy nợ ngắn hạn do các cồng ty lớn và uy tín nhất phát hành).



Sự tác động của chứng khoán hoá đối với các ngân hàng

    Chứng khoán hoá tác động đến ngân hàng và hội đồng quản trị ngân hàng trên nhiều phượng diện khác nhau. Chứng khoán hoá tăng cường sư cạnh tranh đổi với các khoản cho vay chất lượng cao nhất giữa ngân hàng và các tổ chức cho vay khác. Các khoản cho chất lượng cao có 2 ưu thế: một là chúng dược hoàn trả theo dạng hợp đồng (với ít vấn đề về quản lý tiền vay); hai là chúng có thể dễ dàng phục vụ hoạt dộng chứng khoán hoá tạo ra nguồn vốn mới cho ngân hàng.

   Chứng khoán hoá còn tăng cường cạnh tranh giữa các ngân hàng trong quá trình thu hút tiền gửi (đặc biệt là chứng chỉ tiền gửi giá trị lớn) bởi vì người gửi tiền thấy rằng họ có thể nhận được lãi suất từ chứng khoán có bảo đảm cao hơn lãi suất trên chứng chỉ tiền gửi. Chứng khoán hoá khiến cho nhiều Công ty bỏ qua các khoản vay trực tiếp từ ngân hàng vàtìm kiếm các nguồn tín dụng trên thị trường mở thông qua việc bán chứng khoán. Vì thế, nó làm giảm tỷ lệ tăng trưởng của các khoản cho vay trực tiếp, nguồn thu nhập chủ yếu của hầu hết các ngân hàng.

Sự tác động của chứng khoán hoá

    Sự phát triển của thị trường giấy nợ ngắn hạn là một ví dụ điển hình cho việc các ngân hàng đang dần mất đi những khách hàng chất lượng cao nhất. Nhiều Công ty tập hợp các khoản phải thu và phát hành giấy nợ ngắn hạn trên các khoản này. Việc phát hành giấy nợ ngắn hạn đảm bảo bằng tài sản thưởng được thực hiện thông qua một tổ chức độc lập, hợp pháp – gọi là SPE (Special Purpose Entity). SPE mua lại các khoản phải thu bảng tiền nhận được từ việc bán các chứng khoán dược đảm bảo bằng khoản phải thu đó. Không giống như các chứng khoán hoá khác, giấy nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng tài sản có kỳ hạn ngắn (dưới 9 tháng), hoạt động mua bán không nhất thiết phải kết thúc khi các khoản phải thư đến hạn hoặc khi chứng khoán được thanh toán. Thực ra, các khoản phải thu mới có thể được bán cho cùng một tổ chức SPE để thay thế cho những khoản phải thu dã được hoàn trả và thương phiếu mới có thể được phát hành thay thế cho các thương phiếu đến hạn thanh toán.

    Các ngân hàng có thể thu lợi gián tiếp dưới hình thức phí phát hành thư bảo lãnh tín dụng để năng cao chất lượng của các chứng khoán trên thị trường. Hơn nữa, ngân hàng có thể tạo thêm thu nhập thông qua việc cung cấp tiền mặt trong trường hợp công ty phát hành chứng khoán thiếu hụt tiền mặt và thông qua việc bảo lãnh phát hành đối với những chứng khoán mới. Các ngân hàng cũng nhận ra rằng họ có thể sử dụng chứng khoán hoá để giúp đỡ các khách hàng công ty đáng tin cậy trong việc tìm kiếm nguồn tài chính mà không cần thực hiện bất kỳ khoản cho vay trực tiếp nào, các khoản cho vay mà có thể làm tăng tài sản rủi ro và đội hỏi ngân hàng phải tăng vốn chủ sờ hữu. Cuối cùng, tất cả những thay đổi này có thể làm giảm thu nhập và táng chi phí nguồn vốn của ngân hàng. Đối một sự cạnh tranhgay gắt trên cả hai phía của Bảng cân đối kế toán, gân đây nhiều ngân hàng chú ý hơn vào các khu vực dịch vụ khác, ít bị tác động bởi chứng khoán hoá như cho vay với các hô gia đình và các hãng kinh doanh vừa và nhỏ.


Đọc thêm tại:

Chứng khoán hóa từ các nguồn cho vay

        Ở Mỹ, chứng khoán được phát hành trên nhiều món vay, bao gồm cho vay mua nhà, các khoản phải thu từ thẻ tín dụng, từ cho thuê xe tải và máy tính.

Tháng 3/1990 Citicorp đã bán 1,4 tỷ USD chứng khoán trên các khoản cho vay theo thẻ tín dụng và đây là lĩnh vực chứng khoán hoá có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Các ngân hàng lớn khác cũng đẩy mạnh phát hành chứng khoán từ các khoản cho vay theo thẻ tín dụng bao gồm Chase Mahattan/ Chemical Bank, First National Bank của Chicago và Bank of America.

Vào cuối những năm 1980, một xu hướng mới đã xuất hiện trên thị trường khi các ngân hàng bắt đầu hỗ trợ khách hàng là các doanh nghiệp thực hiện chứng khoán hoá các khoản tín dụng, các khoán phải thu từ cho thuê và phát hành giấy nợ ngắn hạn được bảo đảm bằng tài sản nhằm cung cấp cho khách hàng những nguồn vốn ổn định với chi phí thấp.

Chứng khoán hóa từ các nguồn cho vay

Chứng khoán hoá không phải là nguồn vốn khả dụng đối với mọi ngân hàng. Theo ước tính gần đây, các đợt chứng khoán hoá thành công phải có mức giá trị tối thiểu là 50 triệu USD. Tuy vậy, các ngân hàng nhỏ thường là những nhà đầu tư tích cực vào loại chứng khoán này. Nhiều ngân hàng nhỏ có thể tập hợp các khoản cho vay của họ lại và cùng nhau phát hành chứng khoán.

Chứng khoán được đảm bảo bàng các khoản cho vay gần giống với trái phiếu truyền thống ở chỗ chúng cam kết một mức lãi suất cố định hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng. Công cụ này thường bao hàm nhiều dạng “tăng cường tín dụng” nhằm tạo cho người mua ấn tượng rằng đây là lựa chọn đầu tư ít rủi ro, ví dụ như yêu cầu một tổ chức khác phát hành thư bảo lãnh tín dụng bảo đảm thanh toán cho các chứng khoán. Một phương pháp phổ biến khác là các nhà phát hành dành rlêng một khoản dự trữ tiền mặt trích từ chênh lệch lãi suất giữa của các khoản cho vay được chứng khoán hoá với lãi phải trả cho những người vay chứng khoán để trang trải rủi ro khi các khoản cho vay không được hoàn trả.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chứng khoán hóa, các nghiệp vụ ngân hàng

Các khoản cho vay được chứng khoán hoá

Khi các khoản cho vay này nằm trong bảng cân đối, ngân hàng vẫn phải đáp ứng yêu cầu bắt buộc về vốn chủ sở hữu để đảm bảo cho chúng. Trong khi đó, vì các khoản cho vay dùng làm vật thế chấp thường có giá trị lớn hơn lượng trái phiếu phát hành nên ngân hàng cần phải tăng cường huy động tiền gửi và đi vay để bù đắp cho phần chênh lệch; điều này làm tăng quy mô nguồn vốn và cũng làm tăng yêu cầu dự trữ bắt buộc của ngân hàng.

Bên cạnh các khoản cho vay thế chấp nhà còn có nhiều các loại tài sản khác được chứng khoán hoá. Ví dụ, tháng 10/1986, Công ty First Boston một trong các ngân hàng đầu tư lớn thế giới, đã công bố kế hoạch bán 3,2 tỷ USD chứng khoán trên các khoản cho vay mua ô tô lãi suất thấp của Công ty General Motors Acceptance (GMAC). Một đặc điểm mới là cấu trúc ưu tiên bậc thang của loại chứng khoán này bao gồm các loại trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, mỗi loại có quyền ưu tiên khác nhau đối với thu nhập từ các khoản cho vay mua ô tô được chứng khoán hoá. Một Công ty con của First Boston đã mua các món cho vay đó từ GMAC, vì thế các nhà đầu tư nắm giữ các trái phiếu này không nhận được sự hỗ trợ từ Công ty First Boston cũng như từ GMAC trong trường hợp một số khoản cho vay không được thanh toán. Tuy nhlên, GMAC đã cam kết sẽ mua lại tối đa 5% các khoản cho vay được chứng khoán hoá nhằm bù đắp cho khoản cho vay không thể thu hồi.

Các khoản cho vay

Một ví dụ quan trọng khác về các khoản cho vay được chứng khoán hoá là thị trường chiết khấu nợ đối với các nước kém phát triển (LDCs) của các tập đoàn đầu tư Châu Âu. Các khoản cho vay quốc tế chủ yếu dành cho Chính phủ và các Công ty da quốc gia, thưởng không được trả đúng hạn. Hơn nữa, nhiều hoạt động chứng khoán hoá trong nước dã phát sinh từ tình trạng vỡ nợ mà các ngân hàng phải đối mặt – như sự vỡ nợ của các khoản tín dụng nông nghiệp, năng lượng, cho vay bất động sản.

Chứng khoán hoá được xem như một phương pháp lành mạnh hoá danh mục đầu tư của ngân hàng. Với một số lượng hạn chế các khoản cho vay rủi ro và quá hạn, tình hình tài chính của ngân hàng sẽ vững mạnh hơn và ngân hàng có thể hạ thấp chi phí vay vốn. Điều quan trọng hơn là chứng khoán hoá làm tăng tính thanh khoản và tính đa dạng của danh mục đầu tư và phương pháp này có thể dược sử dụng để giảm rủi ro lãi suất vì kỳ hạn của tài sản sẽ khớp hơn với kỳ hạn của nguồn vốn.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chung khoan hoa, nghiep vu ngan hang

Tìm hiểu trái phiếu được đảm bảo bằng nợ

       Một loại hình chứng khoán hoá gần đây đã xuất hiện, hỗ trợ các ngân hàng trong việc tăng cường khả năng huy động vốn được gọi là trái phiếu được đảm bảo – bằng nợ “loan – backed bonds”. Các ngân hàng có thể chọn ra một nhóm các khoản cho vay trong Bảng cân đối kế toán, phát hành trái phiếu (bonds) và sử dụng các món cho vay như vật thế chấp. Không giống như chứng khoán chuyển qua và trái phiếu đảm bảo bằng cho vay thế chấp (CMO) – cho phép ngân hàng đưa các khoản cho vay ra khỏi Bảng cân đối kế toán – trái phiếu được đảm báo bằng nợ nằm trong Bảng cân đối kế toán như một nguồn vốn nợ.

Hơn nữa, nguồn tiền thu từ các khoản cho vay dùng làm vật thế chấp không phải là nguồn tiền duy nhất dược sử dụng để đáp ứng các yêu cầu thanh toán lãi và vốn gốc cho trái phiếu. Trái phiếu bảo đàm bằng nợ có thể được thanh toán từ bất kỳ nguồn thu nhập nào của ngân hàng. Do giá trị thị trường của các khoản cho vay dùng làm vật thế chấp cho các trái phiếu thưởng lớn hơn giá trị của lượng trái phiếu dược phát hành nên chí số chất lượng tín dụng của các trái phiếu này thưởng cao hơn chỉ số của chính ngân hàng.

Tìm hiểu trái phiếu

Vậy, một ngân hàng có thể thu dược gì từ việc phát hành các trái phiếu được đảm bảo bằng nợ.Trước hết, chi phí huy động vốn có thể giảm xuống bởi vì rủi ro vỡ nợ của các trái phiếu này thưởng được giới đầu tư đánh giá là thấp do được bảo đảm bằng các khoản cho vay có giá trị lớn hơn. Thực tế, việc phát hành loại trái phiếu này thưởng rẻ hơn việc bán các chứng chỉ tiền gửi lớn, không được công ty bảo hiểm tiền gửi của Chính phủ bảo hiểm hoàn toàn. Điều này có nghĩa là các ngân hàng có thể thay thế các khoản tiền gửi không được bảo hiểm bằng các trái phiếu được bảo đảm bởi các tài sản của ngân hàng.

Hơn nữa, trái phiếu này thưởng có kỳ hạn dài hơn tiền gửi nên ngân hàng có thể kéo dài kỳ hạn của nguồn vốn để phù hợp với kỳ hạn của các tài sản. Tuy nhiên, việc phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất thấp cũng có hai ưu điểm giống như phát hành trái phiếu được đảm bảo bằng nợ (chi phí nguồn vốn thấp và tạo ra sự hợp lý hơn giữa kỳ hạn tài sản và kỳ hạn nguồn vốn).

Tất nhiên, cũng có một số bất lợi trong việc phát hành trái phiếu được đảm bảo bằng nợ. Điều này giải thích tại sao loại trái phiếu này ít được sử dụng nhất trong số các hoạt động chứng khoán hoá hiện nay. Ví dụ, các khoản cho vay dùng làm vật thế chấp cho trái phiếu phải nằm trong bảng cân đối kế toán tới khi trái phiếu đến hạn thanh toán và do vậy làm giảm tính lỏng của các khoản đầu tư. 



Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Những công cụ CMO gây rắc rối cho nhà kinh doanh

Các CMO được sắp xếp theo nhiều thứ hạng, tiền lãi cho mỗi CMO được thanh toán đều đặn theo mức lãi suất của từng hạng nhưng các khoản thanh toán vốn gốc sẽ được chuyển cho những người có ưu tiên hạng nhất tho tới khi các công cụ ưu tiên này được thanh toán hoàn toàn. Các khoản thanh toán vốn gốc sau đó sẽ được chuyển cho những người nắm giữ có ưu tiên hạng hai… và quá trình này sẽ được thực hiện cho tới khi tất cả các CMO được thanh toán hoàn toàn. Những CMO hạng cao thường có kỳ hạn ngắn và dễ ước lượng, do đó có rủi ro tái đầu tư thấp. Ngược lại, CMO thứ hạng thấp thường có kỳ hạn dài với rủi ro thanh toán trước hạn lớn nhưng mang lại mức thu nhập dự tính cao hơn.

Một trong những công cụ CMOrủi ro nhất được sử dụng hiện nay là CMO mức z. Công cụ này chỉ được thanh toán sau khi tất cả các hạng mức khác đã được thanh toán hoàn toàn. Một loại CMO ngoại lai gần đây mới xuất hiện là CMO lãi suất thả nổi (lãi suất dược gắn với một số lãi suất cơ bản), CMO thả nổi đặc biệt (tỷ lệ thu nhập là bội số của một số mức lãi suất) và loại “Jump Z”, công cụ có thể trở thành hạng nhất trong một số điều kiện thị trường nhất định. CMO và một số công cụ tài chính được bảo đảm bằng chứng khoán khác trong những năm gần đây đã trở nên rất phức tạp đến nỗi các nhà kinh doanh chứng khoán có kinh nhiệm cũng có khi phải chịu tổn thất đáng kể.

nhà kinh doanh

Trong suốt thập kỷ 90, thị trường HEM, thị trường cho các chứng khoán được bảo đảm bằng các khoản cho vay trên cơ sở giá trị ngôi nhà của chủ sở hữu (đây là hình thức cho phép người chủ ngôi nhà được vay trên cơ sở giá trị ròng của ngôi nhà – tức là phần chênh lệch giữa giá trị thị trường của ngôi nhà và giá trị của khoan vay mua nhà thế chấp) ngày càng trở nên phổ biến bởi vì lãi suất áp dụng cho các khoản cho vay này thường thấp hơn các khoản cho vay thông thường. Nó mở ra một nguồn tín dụng cho các hộ gia đình và tỏ ra rất linh hoạt trong khi sử dụng. Các chứng khoán được bảo đảm bằng các khoản cho vay HEM thường mang một tỷ lệ thu nhập cao hơn các chứng khoán được đảm bằng các khoản nợ khác bởi vì các khoản nợ HEM có mức rủi ro trả trước cao. Khi lãi suất hạ thấp, những người chủ nhà sẽ thanh toán toàn bộ số tiền vay của họ. Mức độ cạnh tranh trên thị trường này giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng ngày càng cao do các tổ chức đều muốn thu hút những người vay vốn theo HEM đã khiến cho mức độ rủi ro của các chứng khoán này trong những năm gần đây tăng đáng kể.


Đọc thêm tại:



Thị trường cho vay mua nhà thế chấp

Khái niệm chứng khoán hoá xuất hiện từ thị trường cho vay thế chấp nhà tại Mỹ trong, đó 3 tổ chức liên bang – Hiệp hội cho vay thế chấp quốc gia của Chính phủ (GNMA), Hiệp hội cho vay thế chấp liên bang (FNMA) và Còng ty cho vay mua nhà thế chấp liên bang (FHLMC) – hoạt dộng với mục đích làm tăng khả năng mua bán của các khoản cho vay thế chấp nhà. Ví dụ, GNMA bảo trợ cho 1 chương trình chứng khoán hoá trong đó ngân hàng và những người cho vay khác có thể tập hợp các khoản cho vay thế chấp nhà được Hiệp hội nhà ở liên bang (PHA), Hôi cựu chiến binh (VA) và hiệp hội Nhà ở Nông dân FFMHA, bảo đám và thực hiện chứng khoán hoá. Các chứng khoán phát hành trên những khoản cho vay này thường dược gọi là chứng khoán chuyển qua (pass-through securities). GNMA bảo đảm việc thanh toán lãi và vốn cho người nắm giữ chứng khoán chuyển qua mà GNMA đồng ý bảo trợ. Trong khi GNMA bảo đảm hoạt động chứng khoán hoá các khoản cho vay của các tổ chức tư nhân thì FNMA tự phát hành chứng khoán trên cơ sở các khoản cho vay thế chấp và bán chúng cho các nhà đẩu tư và các tổ chức đầu tư lớn như Công ty bảo hiểm nhân thọ, Quỹ hưu trí. FNMA sử dụng số tiền từ việc bán chứng khoán để mua một số khoản cho vay thế chấp nhà thông thường và một số khoản cho vay thế chấp nhà dược Chính phủ bảo đảm từ ngân hàng và các tổ chức cho vay khác.

mua nhà thế chấp

Về phần mình, FHLMC mua các khoản cho vay thế chấp nhà thông thường và cho vay thế chấp nhà được Chính phủ bảo đảm từ các tổ chức cho vay tư nhân. FHLMC thực hiện thanh toán cho việc mua nợ nêu trên bằng cách phát hành chứng khoán (dược FHLMC) báo đảm trên những khoản cho vay này. Bắt đầu từ năm 1980, với sự hợp tác của công ty Boston (First Boston Corporation), một công ty mua bán chúng khoán lớn – FHLMC’đã phát triển một loại hình công cụ tài chính mới được đảm bảo bằng các khoản cho vay thế chấp, được gọi là CMO, hay trái phiếu có bảo đảm bằng các khoản cho vay thế chấp. Cùng với sự xuất hiện của CMO, các nhà đẩu tư được cung cấp nhiều loại chúng khoán được bảo đảm bằng các khoản cho vay thế chấp với các dòng tiền dự kiến khác nhau. Có một số bước cụ thể cho việc phát hành CMO. Trước tlên, các khoản cho vay thế chấp nhà được tập hợp thành 1 nhóm và GNMA sẽ phát hành chứng khoán chuyển qua trên nhóm cho vay thế chấp này. Các chứng khoán chuyển qua được ghi nhận trong Tài khoản Ủy thác nằm ngoài Bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Sau đó, ngân hàng sẽ phát hành trái phiếu CMO trên các chứng khoán chuyển qua này để huy động thêm vốn mới. Ngân hàng với tư cách là người phát hành CMO hy vọng sẽ tạo được thu nhập từ việc tập hợp và chuyển chứng khoán thành một hình thức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư. Mỗi loại CMO sẽ trả cho các nhà đầu tư một mức lãi suất coupon khác nhau, xác định kỳ hạn thanh toán và mức lãi suất trả trước (thanh toán trước hạn) khác nhau.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chứng khoán hóa, các nghiệp vụ ngân hàng

Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của chương này là nghlên cứu những công cụ tài chính mới mà các ngân hàng sử dụng trong những năm gần đây nhằm hạn chế rủi ro, tạo thêm những nguồn thu nhập từ lệ phí và tăng cường khả năng huy động vốn để phục vụ hoạt động cho vay và đầu tư. Trên quan điểm của một nhà quản lý, chúng ta sẽ nghlên cứu ưu điểm, nhược điểm và đánh giá vai trò của những công cụ tài chính mới này đối với hoạt động ngân hàng.
Giới thiệu

công cụ tài chính

Như chúng ta đã thấy trong các chương trước, ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều loại rủi ro khác nhau. Khi lãi suất thay đổi, thu nhập từ lãi, chi phí trả lãi cũng như giá trị của các tài sản ngân hàng (đặc biệt là danh mục đầu tư) đều bị ảnh hưởng. Tình trạng khách hàng vay vốn không thanh toán được nợ buộc ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng, đe doạ làm giảm thu nhập. Thêm vào đó, ngân hàng phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe từ phía các nhà lập pháp về vấn đề tăng cường vốn chủ sở hữu – nguồn vốn có chi phí cao nhất – nhằm bảo vệ ngân hàng trước những rủi ro trong quá trình hoạt động. Do vậy, các ngân hang đều rất năng động trong-việc tìm ra những giải pháp đối với yêu cầu tăng, vốn chủ sở hữu bằng cách loại bỏ các tài sản rủi ro khỏi danh mục tài sản, hay hạn chế các rủi ro.
Đối mặt với áp lực về rủi ro và yêu cầu tăng vốn chủ sở hữu, hê thống ngân hàng trong những năm gần đây đã phát triển và sử dụng rất nhiều loại công cụ quản lý rủi ro khác nhau. Những công cu quản lý rủi ro mới ra đời bao gồm: chứng khoán hoá các khoản cho vay, bán nợ, bảo lãnh tín dụng và các công cụ tín dụng phái sinh khác. Những công cụ mới này không chỉ giúp ngân hàng hạn chế một cách hiệu quả rủi ro mà còn tạo cho ngân hàng những nguồn thu nhập mới từ lệ phí, giúp ngân hàng có thể phục vụ khách hàng tốt hơn. thậm chí cả trong giai đoạn khó khăn về nguồn vốn. Trong chương này, chúng ta sẽ nghlên cứu cụ thể những công cụ quản lý rủi ro nêu trên.


Đọc thêm tại:

Vốn từ việc bán chứng khoán chuyển về ngân hàng

      Nguồn vốn gia tăng từ việc bán chứng khoán được chuyển trực tiếp thành các khoản cho vay mới và các tài sản khác của ngân hàng.
Vốn từ việc bán chứng khoán chuyển về ngân hàng. Chúng từ nhận nợ của các khách hàng vay vốn được xếp thành một nhóm các khoản cho vay cùng loại và chứng khoán thể hiện quyền lợi trên các khoản cho vay này được bán cho nhà đầu tư.
     Trên thực tế, chứng khoán hoá cho phép các ngân hàng hoạt động trong những thị trường đang xuống dốc có thể da dạng hoá đầu tư sang các thị trường khác, bù đắp thua lỗ trên thị trường truyền thống bằng những khoản thu nhập từ các thị trường đang phát triển khác.
      Chứng khoán hoá cũng là một công cụ hữu hiệu trong việc quản lý rủi ro lãi suất, giúp các ngân hàng có thể dễ dàng thay đổi danh mục dầu tư để cho kỳ hạn của tài sản phù hợp hơn với kỳ hạn của các nguồn vốn.
      Hơn nữa, ngân hàng có thể thu thêm được một khoản lệ phí thông qua hoạt động quản lý những tài sản được chứng khoán hoá. Điều này có nghĩa là ngần hàng giám sát quá trình trá nợ của những người vay, thu các khoản thanh toán đến hạn, và đảm bảo có đủ tài sản thế chấp để bảo vệ người đầu tư chứng khoán.

Vốn từ việc bán chứng khoán

       Trong khi ngân hàng tiếp tục quản lý các tài sản đảm bảo cho chứng khoán, ngân hàng có thể đưa các tài sản này ra ngoài Bảng cân đối kế toán, từ đó sẽ loại bỏ được rủi ro nếu như các khoản cho vay không được hoàn trả hoặc nếu như lãi suất thay đổi theo xu hướng giảm thấp giá trị của tài sản. (Chứng khoán hoá có xu hướng rút ngắn kỳ hạn và giảm bớt sự nhạy cảm của tài sản ngân hàng với những thay đổi lãi suất). Một ngân hàng cũng có thể tạo được thu nhập từ sự chênh lệch giữa lãi suất trên các tài sản được chứng khoán hoá và lãi suất trả cho những người nắm giữ chứng khoán phát hành trên cơ sở các tài sản đó. Hơn nữa, các khoản thuế phải nộp có thể giảm do chi phí trả lãi được miễn thuế khi tài sản được chứng khoán hoá và không có yêu cầu dự trữ bắt buộc đối với dòng tiền tạo ra từ hoạt động này.

     Tuy nhlên, các tài sản được tập hợp để phát hành chứng khoán phải có cùng tiêu chuẩn về chất lượng, mục đích và các đặc điểm đầu tư (như lãi suất cao, hoặc có thể bán dễ dàng) nhằm thu hút giới đầu tư.




Ngân hàng phát hành chứng khoán

      Trong khi một số ngân hàng cho rằng chứng khoán hoá giúp cho ngân hàng cổ thể tồn tại với yêu cầu về vốn thấp hơn (bởi vì các tài sản có tính rủi ro dược loại bỏ ra khỏi Bảng cân đổi kế toán), nhưng như các quy định đã nêu rõ, chứng khoán hoá các khoản cho vay không phải lúc nào cũng có thể làm giảm yêu cầu về vốn của một ngân hàng. Ví dụ, chứng khoán hoá các khoản cho vay thương mại có thể đòi hỏi cùng một tỷ lệ vốn chủ sở hữu như các khoản cho vay thương mại khác. Theo như Thoả thuận vệ tiêu chuẩn vốn quốc tế giữa Mỹ,Canada, Nhật và các nước đúng đẩu ở Châu Âu (sẽ thảo luận ở chương 15), các khoản cho vay thương mại thông thường cũng như các khoản cho vay thương mại được chúng khoán hoá đểu có yêu cầu tỷ lệ vốn chủ sở hữu bảo đảm là 8%. Ví dụ, khi các khoản cho vay được bán hoặc được chúng khoán hoá và người mua có quyền bán lại chúng khoán cho ngân hàng phát hành trong trường hợp các khoản cho vay không được hoàn trả. Do đó toàn bộ giá trị của các khoản cho vay phải được tính đến trong yêu vốn chủ sở hữu của ngân hàng.

Ngân hàng phát hành chứng khoán

     Như phần trên đã đề cập, chứng khoán hoá các khoản cho vay tạo ra nhiều cơ hội về thu nhập cho ngân hàng lựa chọn phương pháp huy động vốn này. Một ngân hàng có thể nhận được thu nhập từ chênh lệch (thường là dương) giữa lãi suất trung bình của các khoản cho vay và lãi suất coupon mong đợi của chứng khoán, thường gọi là thu nhập còn lại (residual income).

      Ngân hàng phát hành chứng khoán (securitizing bank) hoặc một tổ chức khác có thể nhận được một khoản thu nhập bổ sung từ dịch vụ như quản lý tài sản bảo đảm cho chứng khoán, thu tiền lãi cho vay và giám sát hoạt động của các món vay. Nhiều ngân hàng cũng có thể tăng thu nhập thông qua các hoạt động như bán giấy bảo đảm (guarantees) để bảo vệ các nhà đầu tư, người nắm giữ các chứng khoán, tư vấn cho các tổ chức thực hiện chứng khoán hoá các khoản cho vay về trình tự, thủ tục cần thiết, hay cung cấp tiền mặt bổ sung trong trường hợp tổ chức thực hiện chứng khoán hoá không đủ tiền mặt để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán cho nhà đầu tư.
      Dưới đây là ví dụ minh hoạ về một giao dịch chứng khoán hoá và các khoản phí có thể phát sinh: lãi suất dự kiến trung bình với các khoản cho vay trong nhóm, (phần trăm trên tổng giá trị của các khoản cho vay được chứng khoán hoá): 15%



Từ khóa tìm kiếm nhiều: chung khoan hoa, nghiep vu ngan hang